Minecraft có 43 loại bùa phù phép, trong đó bản Bedrock (Minecraft PE) dùng được 42 loại — Sweeping Edge chỉ có trên Java. Bạn lấy bùa từ bàn phù phép (cần 15 kệ sách để mở ô cấp 30), từ sách phù phép ghép bằng đe, giao dịch với thủ thư, câu cá và rương chiến lợi phẩm.
Phù phép trong Minecraft là gì và hoạt động ra sao
Phù phép (enchanting) là cách bạn gắn thêm hiệu ứng đặc biệt lên vũ khí, công cụ, giáp và một số vật phẩm khác. Một cây cúp kim cương bình thường đào đá mất gần một giây mỗi khối. Cũng cây cúp đó gắn Efficiency V thì đào đá liền tay. Một bộ giáp netherite trơn chịu trọn sát thương từ creeper. Bộ giáp đó gắn đủ Protection IV thì chỉ còn nhận chưa tới một nửa.
Mỗi bùa có ba thông tin bạn cần nhớ: cấp tối đa, danh sách vật phẩm gắn được, và danh sách bùa xung khắc. Cấp tối đa quyết định hiệu quả trần. Danh sách vật phẩm quyết định bạn có gắn được hay không — ví dụ Looting chỉ lên kiếm và giáo, không lên rìu. Danh sách xung khắc quyết định bạn phải chọn một trong nhiều bùa cùng nhóm, ví dụ Fortune và Silk Touch không bao giờ nằm chung trên một cây cúp trong chế độ sinh tồn.
Trong Minecraft PE, bốn nguồn bùa phổ biến nhất là bàn phù phép, đe ghép sách phù phép, giao dịch với dân làng thủ thư và câu cá. Ngoài ra còn nguồn hiếm hơn: rương trong các công trình, đổi chác với piglin và rương báu ominous ở Trial Chamber. Một số bùa như Mending, Frost Walker, Soul Speed, Swift Sneak, Wind Burst và hai lời nguyền thuộc nhóm “treasure” — bàn phù phép không bao giờ cho ra chúng, bạn buộc phải tìm sách.
Bài này liệt kê đầy đủ 43 bùa kèm số liệu thật lấy từ dữ liệu game, rồi đi tiếp sang phần mà phần lớn bài hướng dẫn tiếng Việt bỏ qua: cơ chế tính cấp kinh nghiệm, cách đe tính giá, bộ bùa tối ưu cho từng món và những chỗ Bedrock khác Java.
Bảng đầy đủ 43 loại bùa phù phép trong Minecraft
Bảng dưới đây gom toàn bộ bùa hiện có, ưu tiên số liệu của bản Bedrock 1.26. Cột “Xung khắc” liệt kê những bùa không thể nằm chung một vật phẩm trong chế độ sinh tồn.
| Tên tiếng Việt | Tên tiếng Anh | Cấp tối đa | Áp dụng cho | Tác dụng cụ thể | Xung khắc với |
|---|---|---|---|---|---|
| Sắc bén | Sharpness | V | Kiếm, giáo, rìu | Bedrock cộng 1,25 sát thương mỗi cấp rồi làm tròn xuống; Java cộng 1 ở cấp I và 0,5 cho mỗi cấp sau | Smite, Bane of Arthropods, Density, Breach |
| Trừng phạt | Smite | V | Kiếm, giáo, rìu, chùy | Cộng 2,5 máu sát thương mỗi cấp lên mob bất tử: zombie, skeleton, drowned, husk, stray, phantom, Wither | Sharpness, Bane of Arthropods, Density, Breach |
| Diệt chân đốt | Bane of Arthropods | V | Kiếm, giáo, rìu, chùy | Cộng 2,5 máu mỗi cấp lên nhện, nhện hang, cá bạc, endermite và ong; đồng thời gây hiệu ứng chậm | Sharpness, Smite, Density, Breach |
| Đẩy lùi | Knockback | II | Kiếm, giáo | Tăng khoảng đẩy lùi thêm khoảng 2,586 khối mỗi cấp so với mức gốc 1,552 khối | Không |
| Cướp bóc | Looting | III | Kiếm, giáo | Tăng số vật phẩm rơi tối đa thêm 1 mỗi cấp và tăng 1 điểm phần trăm tỉ lệ rơi đồ hiếm | Không |
| Lửa thiêu | Fire Aspect | II | Kiếm, giáo; chùy và rìu qua đe | Đốt mục tiêu 4 giây mỗi cấp; mob chết cháy rơi ra thịt đã nướng sẵn | Không |
| Lưỡi quét | Sweeping Edge | III | Kiếm (chỉ Java) | Tăng sát thương của đòn quét ngang; Bedrock không có bùa này vì không có cơ chế quét | Không |
| Sức mạnh | Power | V | Cung | Tăng sát thương mũi tên thêm 25% nhân với (cấp + 1), làm tròn lên nửa trái tim | Không |
| Cú đấm | Punch | II | Cung | Tăng lực đẩy lùi của mũi tên, hữu ích khi đẩy mob xuống vực hoặc giữ khoảng cách | Không |
| Ngọn lửa | Flame | I | Cung | Mũi tên bốc cháy, đốt mục tiêu trúng đích, đồng thời kích nổ TNT và thắp lửa trại từ xa | Không |
| Vô hạn | Infinity | I | Cung | Bắn không tốn mũi tên thường, chỉ cần giữ ít nhất 1 mũi tên trong túi; không áp dụng cho tên thuốc và tên quang phổ | Mending |
| Đa mũi | Multishot | I | Nỏ | Bắn 3 mũi tên cùng lúc nhưng chỉ tiêu tốn 1 mũi tên; hai mũi hai bên không nhặt lại được | Piercing |
| Xuyên thấu | Piercing | IV | Nỏ | Mũi tên xuyên qua số thực thể bằng cấp cộng 1, bỏ qua khiên đang giơ và vẫn nhặt lại được | Multishot |
| Nạp nhanh | Quick Charge | III | Nỏ | Giảm 0,25 giây thời gian lên dây mỗi cấp, đưa nỏ từ 1,25 giây xuống 0,5 giây ở cấp III | Không |
| Trung thành | Loyalty | III | Đinh ba | Đinh ba tự bay về tay sau khi ném; cấp càng cao thì tốc độ quay về càng nhanh | Riptide |
| Dẫn sét | Channeling | I | Đinh ba | Khi trời giông, đinh ba trúng mục tiêu ngoài trời sẽ gọi một tia sét đánh thẳng xuống | Riptide |
| Xuyên nước | Impaling | V | Đinh ba | Cộng 2,5 máu mỗi cấp; Bedrock tính cho mọi mob đang dính nước hoặc đứng trong mưa, Java chỉ tính mob thủy sinh | Không |
| Cuốn nước | Riptide | III | Đinh ba | Phóng người chơi đi xa (6 nhân cấp) cộng 3 khối khi đang trong mưa hoặc trong nước, thay vì ném vũ khí | Loyalty, Channeling |
| Nén khối | Density | V | Chùy | Tăng sát thương đòn đập thêm 0,5 máu mỗi cấp cho mỗi khối đã rơi trước khi chạm đất | Breach, Smite, Bane of Arthropods |
| Phá giáp | Breach | IV | Chùy | Giảm 15% hiệu quả điểm giáp và độ dai của giáp mục tiêu mỗi cấp, kể cả giáp bẩm sinh của mob | Density, Smite, Bane of Arthropods |
| Bùng gió | Wind Burst | III | Chùy (chỉ qua sách) | Sau đòn đập, một luồng gió tung người chơi lên cao để đập tiếp; không triệt tiêu sát thương rơi | Không |
| Lao tới | Lunge | III | Giáo | Đòn đâm phóng người chơi về phía trước; tiêu tốn 0,5 điểm đói mỗi cấp và 1 độ bền mỗi lần dùng | Không |
| Hiệu quả | Efficiency | V | Cúp, xẻng, rìu, cuốc; kéo qua đe | Tăng tốc độ đào theo công thức cấp nhân cấp cộng 1, tức cấp V cộng 26 điểm tốc độ | Không |
| Vận may | Fortune | III | Cúp, xẻng, rìu, cuốc | Tăng số vật phẩm rơi từ quặng và một số khối; kim cương trung bình đạt 2,2 viên mỗi khối ở cấp III | Silk Touch |
| Tơ mềm | Silk Touch | I | Cúp, xẻng, rìu, cuốc | Khối rơi ra nguyên dạng thay vì vỡ: đá liền, quặng nguyên, kính, tổ ong, băng xanh, khối sculk | Fortune |
| Vận may biển | Luck of the Sea | III | Cần câu | Nâng tỉ lệ câu trúng nhóm báu vật từ 5% lên khoảng 7,07%, 9,18% và 11,34% theo từng cấp | Không |
| Mồi nhử | Lure | III | Cần câu | Giảm 5 giây thời gian chờ cá cắn câu mỗi cấp, tính cho cả mốc chờ nhỏ nhất và lớn nhất | Không |
| Bảo hộ | Protection | IV | Mũ, áo, quần, giày, mai rùa | Giảm 4% hầu hết mọi loại sát thương mỗi cấp trên từng món giáp; tổng giảm sát thương bị chặn ở 80% | Fire Protection, Blast Protection, Projectile Protection |
| Chống lửa | Fire Protection | IV | Mũ, áo, quần, giày, mai rùa | Giảm sát thương từ lửa, dung nham và cầu lửa, đồng thời rút ngắn thời gian bị cháy | Protection, Blast Protection, Projectile Protection |
| Chống nổ | Blast Protection | IV | Mũ, áo, quần, giày, mai rùa | Giảm sát thương và lực hất văng từ vụ nổ của creeper, TNT, giường ở Nether và đầu Wither | Protection, Fire Protection, Projectile Protection |
| Chống đạn | Projectile Protection | IV | Mũ, áo, quần, giày, mai rùa | Giảm sát thương từ mũi tên, cầu lửa của blaze và ghast, đạn shulker và ba chĩa bị ném | Protection, Fire Protection, Blast Protection |
| Rơi nhẹ | Feather Falling | IV | Giày | Giảm 12% sát thương rơi mỗi cấp, tối đa 48% ở cấp IV; có tác dụng cả khi đâm xuống đất lúc bay elytra | Không |
| Gai nhọn | Thorns | III | Bedrock: cả bốn món giáp và mai rùa; Java: chủ yếu áo giáp | Mỗi món có xác suất bằng cấp nhân 15% phản lại 1 đến 4 máu, đổi lại tốn thêm 2 điểm độ bền mỗi lần kích hoạt | Không |
| Hô hấp | Respiration | III | Mũ, mai rùa | Cộng 15 giây nín thở mỗi cấp trên nền 15 giây gốc; cấp III còn cho 75% cơ hội không mất máu mỗi giây khi hết hơi | Không |
| Thân nước | Aqua Affinity | I | Mũ, mai rùa | Xóa hoàn toàn mức phạt tốc độ đào khi thân người chơi đang chìm trong nước | Không |
| Sải nước | Depth Strider | III | Giày | Mỗi cấp bù một phần ba mức phạt tốc độ dưới nước; cấp III cho bạn đi dưới nước nhanh gần bằng trên cạn | Frost Walker |
| Băng hành | Frost Walker | II | Giày (chỉ qua sách) | Biến mặt nước thành băng mỏng trong bán kính 2 cộng cấp; miễn sát thương từ lửa trại và khối magma | Depth Strider |
| Tốc hồn | Soul Speed | III | Giày (chỉ qua sách) | Tăng khoảng 40,5% đến 61,5% tốc độ khi đi trên cát linh hồn và đất linh hồn, đổi lại hao độ bền giày | Không |
| Lẻn nhanh | Swift Sneak | III | Quần (chỉ qua sách) | Nâng tốc độ khi cúi từ 30% lên lần lượt 45%, 60% và 75% tốc độ đi bộ bình thường | Không |
| Bền bỉ | Unbreaking | III | Hầu hết công cụ, vũ khí, giáp | Cấp III cho công cụ 75% cơ hội không mất độ bền, tức bền gấp khoảng 4 lần; với giáp mức tăng là khoảng 1,43 lần | Không |
| Vá lành | Mending | I | Hầu hết vật phẩm (chỉ qua sách) | Mỗi điểm kinh nghiệm nhặt được hồi 2 điểm độ bền cho một món đang cầm hoặc đang mặc | Infinity |
| Lời nguyền ràng buộc | Curse of Binding | I | Giáp, elytra, đầu mob | Không thể tháo món đồ khỏi ô giáp cho tới khi nó vỡ hoặc người chơi chết | Không |
| Lời nguyền biến mất | Curse of Vanishing | I | Hầu hết vật phẩm | Vật phẩm biến mất hoàn toàn khi người chơi chết thay vì rơi xuống đất | Không |
Bảng trên có đúng 43 dòng, tương ứng 43 bùa đang tồn tại trong game. Bản Bedrock dùng được 42 loại vì thiếu Sweeping Edge, bản Java dùng đủ 43 loại. Con số này đáng nhớ khi bạn đọc các bài hướng dẫn cũ vẫn ghi “37 loại”: danh sách đã dài thêm sau khi chùy, giáo cùng các bùa Density, Breach, Wind Burst và Lunge được đưa vào game.
Nhóm bùa vũ khí cận chiến
Ba bùa sát thương Sharpness, Smite và Bane of Arthropods loại trừ nhau. Với người chơi sinh tồn thông thường, Sharpness là lựa chọn mặc định vì nó cộng sát thương lên mọi mục tiêu. Smite chỉ đáng dùng trên một cây kiếm phụ khi bạn chuẩn bị đánh Wither hoặc dọn farm zombie, còn Bane of Arthropods gần như chỉ hữu ích trong hầm nhện.
Điểm đáng chú ý cho người chơi PE: công thức Sharpness của Bedrock là 1,25 nhân cấp, trong khi Java là 0,5 nhân cấp cộng 0,5. Nghĩa là Sharpness V trên Bedrock cộng 6 máu sát thương, còn trên Java chỉ cộng 3 máu. Cây kiếm netherite Sharpness V ở Minecraft PE mạnh hơn hẳn cây kiếm cùng chỉ số bên Java.
Fire Aspect II vừa gây thêm sát thương cháy vừa cho thịt nướng sẵn khi bạn giết bò hay lợn, nên nó rất tiện lúc đi xa. Nhược điểm là mob cháy sẽ chạy loạn và có thể đốt cỏ quanh bạn. Looting III nên có trên cây kiếm chính nếu bạn cần farm ngọc lục bảo, ender pearl hay đầu creeper.
Nhóm bùa cung và nỏ
Cung và nỏ dùng hai bộ bùa hoàn toàn khác nhau và không chia sẻ bùa nào ngoài Unbreaking, Mending. Với cung, bộ chuẩn là Power V, Flame I, Punch II và Infinity I. Infinity xung khắc với Mending, nên bạn phải chọn: Infinity tiết kiệm mũi tên nhưng cung sẽ hỏng dần, Mending giữ cung sống mãi nhưng bạn phải mang theo tên. Đa số người chơi PE chọn Infinity cho cung chính và để Mending cho giáp.
Với nỏ, Quick Charge III là bùa đáng giá nhất vì nó rút thời gian lên dây từ 1,25 giây xuống 0,5 giây, gần bằng tốc độ kéo cung. Multishot và Piercing loại trừ nhau. Multishot bắn 3 mũi mà chỉ tốn 1, hợp khi dọn đám mob dày. Piercing IV cho mũi tên xuyên 5 mục tiêu, bỏ qua khiên và vẫn nhặt lại được tên, nên hợp hơn khi đánh PvP hoặc tiết kiệm tên.
Nhóm bùa đinh ba, chùy và giáo
Đinh ba có hai hướng xây hoàn toàn trái ngược. Hướng ném gồm Loyalty III, Impaling V và Channeling I — bạn ném, gây sát thương, gọi sét khi trời giông rồi vũ khí bay về tay. Hướng di chuyển dùng Riptide III để phóng bản thân đi xa trong mưa hoặc dưới nước, biến đinh ba thành phương tiện đi lại. Riptide xung khắc với cả Loyalty lẫn Channeling nên bạn không thể có cả hai trên cùng một cây. Nếu bạn chưa có món này, hãy xem qua hướng dẫn cách lấy và sửa đinh ba trong Minecraft trước khi tính chuyện phù phép.
Chùy là vũ khí đặc thù: sát thương phụ thuộc vào độ cao bạn rơi trước khi đập. Density V nhân sát thương theo số khối đã rơi, Breach IV xuyên giáp, còn Wind Burst III tung bạn lên để đập liên tiếp. Density và Breach loại trừ nhau, và cả hai cũng loại trừ Smite lẫn Bane of Arthropods. Wind Burst chỉ rơi ra từ rương báu ominous trong Trial Chamber nên đây là bùa khó kiếm nhất game.
Giáo là vũ khí tầm trung, đâm xa hơn kiếm nhưng không đánh được mục tiêu quá sát. Giáo nhận gần hết bùa của kiếm cộng thêm Lunge — bùa riêng của giáo, phóng bạn về phía trước khi đâm. Lunge III tốn 1,5 điểm đói mỗi lần dùng, vì vậy bạn nên ăn no trước khi lạm dụng nó.
Nhóm bùa công cụ
Với cúp, xẻng, rìu và cuốc, hai bùa quan trọng nhất là Efficiency và Unbreaking. Efficiency tăng tốc theo cấp nhân cấp cộng 1, nên bước nhảy từ cấp IV lên V là lớn nhất. Fortune và Silk Touch loại trừ nhau và quyết định hẳn công dụng của cây cúp: Fortune III cho trung bình 2,2 viên kim cương mỗi khối quặng, còn Silk Touch cho bạn mang nguyên khối quặng về nhà để đập sau hoặc lấy về những khối không thể tái tạo như băng xanh.
Cách chơi gọn nhất là làm hai cây cúp: một cây Fortune III để đào quặng kim cương, ngọc lục bảo, than, đá đỏ và lapis; một cây Silk Touch để lấy đá liền, kính, tổ ong và khối sculk. Cả hai cây đều nên có Efficiency V, Unbreaking III và Mending, và bạn chỉ cần đủ kim cương cho hai đầu cúp là xong.
Nhóm bùa giáp
Bốn bùa bảo hộ loại trừ nhau trên cùng một món, nhưng bạn có thể trộn giữa các món khác nhau. Mỗi cấp Protection giảm 4% sát thương của món đó, và tổng mức giảm của cả bộ bị chặn cứng ở 80%. Bốn món Protection IV là lựa chọn an toàn nhất cho chơi sinh tồn thông thường vì nó có tác dụng với mọi nguồn sát thương.
Nếu bạn xây một bộ chuyên dụng, cách chia phổ biến là ba món Protection IV cộng một món bảo hộ chuyên biệt. Ví dụ đi Nether thì gắn Fire Protection IV lên áo giáp, đi đánh creeper farm thì gắn Blast Protection IV, đi đánh pillager hay skeleton thì gắn Projectile Protection IV. Riêng giày nên ưu tiên Feather Falling IV vì bùa này giảm 48% sát thương rơi — loại sát thương mà giáp thường bỏ qua hoàn toàn.
Nhóm bùa dùng chung và lời nguyền
Unbreaking và Mending gắn được lên gần như mọi thứ và nên là ưu tiên cuối cùng khi bạn hoàn thiện một món đồ. Unbreaking III cho công cụ bền gấp khoảng 4 lần; với giáp con số thấp hơn nhiều, chỉ khoảng 1,43 lần, vì công thức của giáp khác. Mending hồi 2 điểm độ bền cho mỗi điểm kinh nghiệm bạn nhặt, nên một bộ đồ đủ Mending cộng một farm kinh nghiệm nhỏ là đủ để bạn không bao giờ phải làm lại đồ.
Hai lời nguyền đi ngược lại: Curse of Binding khóa món giáp vào người bạn, Curse of Vanishing xóa món đồ khi bạn chết. Đá mài không gỡ được lời nguyền. Chúng chủ yếu xuất hiện trong rương chiến lợi phẩm và sách câu được, nên hãy kiểm tra kỹ mô tả trước khi mặc một bộ giáp nhặt được.
Cách lấy bùa phù phép trong Minecraft PE
Có năm nguồn bùa thực sự dùng được trong chế độ sinh tồn. Mỗi nguồn cho ra nhóm bùa khác nhau, nên người chơi lâu năm thường dùng song song cả năm.
Bàn phù phép
Bàn phù phép cần 4 khối obsidian, 2 kim cương và 1 quyển sách. Đây là nguồn chính cho gần như mọi bùa thường. Bạn đặt vật phẩm vào ô trái, đặt lapis lazuli vào ô phải, rồi chọn một trong ba ô gợi ý. Bàn chỉ nhận vật phẩm chưa có bùa nào — đã có bùa thì bạn phải chuyển sang dùng đe. Xem chi tiết công thức và cách đặt trong bài cách chế tạo bàn enchant trong Minecraft.
Bàn phù phép không bao giờ cho ra Mending, Frost Walker, Soul Speed, Swift Sneak, Wind Burst hay hai lời nguyền. Đó là nhóm “treasure”, chỉ đến từ sách.
Sách phù phép và cái đe
Sách phù phép là cách duy nhất để gắn nhóm treasure và cũng là cách kiểm soát chính xác bùa bạn muốn. Bạn đặt vật phẩm vào ô trái của đe, đặt sách vào ô phải, trả phí bằng cấp kinh nghiệm. Đe cần 3 khối sắt và 4 thỏi sắt; nếu chưa có, đọc hướng dẫn cách làm cái đe trong Minecraft. Đe có 12% xác suất sứt mẻ mỗi lần dùng, nên hãy dự trữ sắt.
Giao dịch với dân làng thủ thư
Thủ thư là nguồn bùa ổn định nhất trong lối chơi dài hạn. Bùa thường có giá từ 2 cộng 3 lần cấp đến 6 cộng 13 lần cấp ngọc lục bảo; bùa treasure đắt gấp đôi, và mọi giá đều bị chặn ở 64 ngọc lục bảo trước khi tính giảm giá. Thủ thư có thể bán gần như mọi bùa trừ Soul Speed, Swift Sneak và Wind Burst.
Mẹo quen thuộc là “quay lại” giao dịch: đặt bục giảng cạnh một dân làng thất nghiệp, xem mặt hàng, nếu không ưng thì phá bục giảng rồi đặt lại cho tới khi ra đúng sách bạn cần. Mẹo này chỉ hoạt động khi dân làng chưa từng giao dịch với bạn. Xem thêm về nghề nghiệp và cách đổi hàng trong bài các loại dân làng Minecraft và cách giao dịch.
Câu cá
Câu cá cho ra sách phù phép ngẫu nhiên thuộc nhóm báu vật. Tỉ lệ trúng nhóm báu vật là 5% khi không có bùa, tăng lên khoảng 7,07%, 9,18% và 11,34% với Luck of the Sea cấp I, II và III. Điều kiện bắt buộc là câu ở vùng nước mở: khu vực 5×4×5 quanh phao phải toàn nước hoặc không khí, không có lá cây, thuyền hay khối rắn chen vào. Rất nhiều người chơi PE câu trong hồ tự đào nhỏ rồi thắc mắc vì sao mãi không ra sách — nguyên nhân thường là vùng nước không đạt chuẩn nước mở.
Rương chiến lợi phẩm và đổi chác
Một số bùa gần như chỉ đến từ nguồn này. Swift Sneak xuất hiện trong rương ở Ancient City với xác suất khoảng 23,7% mỗi rương. Wind Burst rơi ra từ rương báu ominous ở Trial Chamber với xác suất khoảng 5,5% mỗi lần mở bằng chìa khóa ominous. Soul Speed đến từ việc đổi chác với piglin, từ rương ở Bastion Remnant, hoặc từ giày vàng phù phép mà piglin đánh rơi. Ngoài ra, rương ở hầm mỏ bỏ hoang, kim tự tháp sa mạc, đền rừng rậm và thư viện pháo đài cũng thường có sách phù phép.
Cơ chế cấp kinh nghiệm và kệ sách khi phù phép
Đây là phần quyết định chất lượng bùa bạn nhận được, và cũng là phần bị hiểu sai nhiều nhất.
Kệ sách quyết định cấp gợi ý
Kệ sách phải nằm cách bàn đúng một khối trống, cùng độ cao với bàn hoặc cao hơn bàn một khối. Số kệ có hiệu lực tối đa là 15; kệ thứ 16 trở đi bị bỏ qua hoàn toàn. Bố cục phổ biến nhất là một hình vuông 5×5 bao quanh bàn với bàn nằm giữa, dùng đúng 15 kệ ở hai tầng.
Riêng ở Bedrock, khoảng trống giữa kệ và bàn phải là không khí hoàn toàn. Một ngọn đuốc, một tấm thảm hay một cây nấm đặt xen vào cũng đủ cắt kết nối. Bù lại, Bedrock cho phép kệ sách ngập nước mà vẫn hoạt động, điều Java không cho.
| Số kệ sách hoạt động | Cấp tối thiểu của ô dưới cùng | Ghi chú thực dụng |
|---|---|---|
| 0 | 1 | Chỉ ra bùa cấp thấp, gần như vô dụng |
| 5 | 10 | Đủ cho công cụ đá và sắt tạm dùng |
| 8 | 16 | Bắt đầu thấy bùa cấp III đều đặn |
| 10 | 20 | Mốc hợp lý cho base sớm |
| 12 | 24 | Gần đủ, vẫn hụt so với cấp 30 |
| 15 | 30 | Mốc tối đa, mở khóa mọi bùa cấp cao |
Ba ô gợi ý và chi phí thật
Mỗi lần đặt đồ vào bàn, game tính một giá trị nền rồi sinh ra ba ô. Con số lớn hiển thị bên phải mỗi ô là cấp kinh nghiệm bạn phải có, không phải số cấp bị trừ. Số cấp thực sự bị trừ và số lapis cần bằng đúng thứ tự của ô.
| Ô gợi ý | Cấp yêu cầu khi đủ 15 kệ | Lapis tiêu tốn | Cấp kinh nghiệm bị trừ |
|---|---|---|---|
| Ô trên | 2 đến 10 | 1 | 1 |
| Ô giữa | 6 đến 21 | 2 | 2 |
| Ô dưới | 30 | 3 | 3 |
Nghĩa là để nhận một bùa cấp 30, bạn cần đạt cấp 30 nhưng chỉ mất 3 cấp cộng 3 lapis. Đây là lý do người chơi có kinh nghiệm luôn giữ cấp ở mức 30 rồi phù phép liên tục thay vì tiêu hết cấp một lần. Nếu bạn đang thiếu kinh nghiệm, một farm mob nhỏ hoặc lò nấu quặng đều lên cấp nhanh hơn là đi đào lung tung.
Độ phù phép của vật liệu
Mỗi vật liệu có chỉ số “độ phù phép” riêng, ảnh hưởng tới việc bạn nhận được bùa nhiều và mạnh tới đâu ở cùng một mức cấp.
| Vật liệu | Độ phù phép | Nhận xét |
|---|---|---|
| Vàng | 22 | Cao nhất game, hay được dùng để “đẻ” sách bùa tốt rồi ghép sang đồ xịn |
| Gỗ | 15 | Cao bất ngờ nhưng độ bền quá thấp |
| Da | 15 | Tốt cho việc kiếm bùa giáp giá rẻ |
| Netherite | 15 | Bằng gỗ và da, không hề cao hơn kim cương nhiều |
| Sắt | 14 | Cân bằng giữa chi phí và kết quả |
| Xích | 12 | Ít dùng vì khó kiếm |
| Kim cương | 10 | Thấp hơn vàng và sắt, đây là điều nhiều người chơi không ngờ |
| Mai rùa | 9 | Dùng cho mũ đặc biệt có thêm thời gian thở |
| Đá | 5 | Thấp nhất, chỉ nên dùng lúc mới bắt đầu |
Vì vàng có độ phù phép 22 trong khi kim cương chỉ 10, một mẹo tiết kiệm phổ biến là phù phép cúp vàng hoặc sách ở cấp 30 để lấy bùa tốt, rồi mới dùng đe chuyển sang đồ kim cương hay netherite.
Cách dùng đe để ghép và nâng cấp bùa
Đe làm ba việc: ghép hai món cùng loại, ghép sách vào món đồ, và đổi tên. Khi ghép hai bùa cùng loại cùng cấp và cấp đó chưa chạm trần, kết quả tăng lên một cấp — hai sách Sharpness IV cho ra một sách Sharpness V. Nếu sách có cấp cao hơn, món đồ được nâng lên đúng cấp đó. Nếu sách có cấp thấp hơn, không có gì thay đổi nhưng bạn vẫn mất phí.
Giới hạn quan trọng nhất là 39 cấp. Trong chế độ sinh tồn và phiêu lưu, bất kỳ thao tác nào vượt quá 39 cấp đều bị chặn với thông báo “Quá đắt!”. Nguyên nhân gần như luôn là “phạt lần dùng trước”: mỗi lần món đồ đi qua đe, phí cộng thêm theo công thức 2 mũ số lần dùng trừ 1, tức 0, 1, 3, 7, 15, 31 cấp. Sau khoảng sáu lần ghép, món đồ gần như không thể sửa tiếp bằng đe.
Cách né giới hạn này rất đơn giản: ghép sách với sách trước, tạo ra một quyển sách tổng hợp đầy đủ bùa, rồi mới ghép quyển sách cuối cùng đó vào món đồ nguyên bản. Làm vậy món đồ chỉ đi qua đe một lần và giữ nguyên mức phạt bằng không.
Bedrock và Java tính phí khác nhau ở một điểm lớn. Java tính phí theo cấp cuối cùng của bùa trên kết quả nhân với hệ số của bùa đó. Bedrock chỉ tính phần cấp tăng thêm nhân hệ số. Hệ quả là cùng một thao tác ghép, người chơi Minecraft PE thường trả ít cấp hơn hẳn và ít khi gặp “Quá đắt!” như bên Java.
Cách xóa bùa bằng đá mài
Đá mài chế tạo từ 2 gậy, 1 phiến đá và 2 tấm ván gỗ. Đặt món đồ đã phù phép vào một trong hai ô trái, bạn sẽ thấy bản sao không bùa xuất hiện ở ô phải. Khi lấy món đồ ra, đá mài trả lại cho bạn một phần kinh nghiệm tương ứng với giá trị của các bùa vừa gỡ.
Ba điều cần nhớ. Thứ nhất, đá mài không gỡ được lời nguyền — Curse of Binding và Curse of Vanishing ở lại vĩnh viễn. Thứ hai, đá mài không giữ lại bùa dưới dạng sách; bùa bị xóa hẳn, bạn chỉ nhận lại kinh nghiệm. Thứ ba, đá mài còn dùng để sửa đồ: đặt hai món cùng loại vào hai ô, bạn nhận một món có tổng độ bền của cả hai cộng thêm 5% độ bền tối đa, nhưng sạch bùa.
Đá mài rất hợp khi bạn nhặt được đồ có bùa rác như Curse of Vanishing đi kèm bùa tốt, hoặc khi muốn reset mức phạt lần dùng trước của một món đã bị ghép quá nhiều lần. Chi tiết công thức nằm trong bài cách chế tạo đá mài trong Minecraft.
Bộ bùa tối ưu cho từng loại trang bị
Bảng dưới là cấu hình mà người chơi sinh tồn lâu dài thường hướng tới. Mọi món đều ngầm hiểu có Unbreaking III và Mending trừ khi ghi chú khác.
| Trang bị | Bộ bùa nên nhắm tới | Lý do và lưu ý |
|---|---|---|
| Kiếm | Sharpness V, Looting III, Fire Aspect II, Unbreaking III, Mending | Trên Java thêm Sweeping Edge III. Bỏ Fire Aspect nếu bạn hay đánh gần rừng hoặc nhà gỗ |
| Cung | Power V, Flame I, Punch II, Infinity I, Unbreaking III | Infinity xung khắc Mending, nên cung Infinity phải sửa bằng đe hoặc làm lại |
| Nỏ | Quick Charge III, Multishot I hoặc Piercing IV, Unbreaking III, Mending | Multishot cho sát thương diện rộng, Piercing tiết kiệm tên và xuyên khiên |
| Đinh ba (hướng ném) | Loyalty III, Impaling V, Channeling I, Unbreaking III, Mending | Ở Bedrock, Impaling ăn mọi mob đang dính nước nên mạnh hơn hẳn Java |
| Đinh ba (hướng bay) | Riptide III, Unbreaking III, Mending | Chỉ dùng được trong mưa hoặc dưới nước; kết hợp elytra để bay xa |
| Chùy | Density V hoặc Breach IV, Wind Burst III, Unbreaking III, Mending | Density hợp đánh mob máu nhiều, Breach hợp đánh mục tiêu có giáp dày |
| Giáo | Sharpness V, Looting III, Lunge III, Unbreaking III, Mending | Lunge giúp lao vào và rút ra; nhớ giữ thanh đói đầy |
| Cúp đào quặng | Efficiency V, Fortune III, Unbreaking III, Mending | Cây chủ lực cho kim cương, ngọc lục bảo, đá đỏ, lapis và than |
| Cúp lấy khối | Efficiency V, Silk Touch I, Unbreaking III, Mending | Dùng cho đá liền, kính, tổ ong, băng xanh, khối sculk |
| Rìu | Efficiency V, Sharpness V, Unbreaking III, Mending | Ở Bedrock, rìu nhận Sharpness ngay từ bàn phù phép, Java phải qua sách |
| Xẻng | Efficiency V, Silk Touch I, Unbreaking III, Mending | Silk Touch để lấy tuyết bột và đất cỏ nguyên khối |
| Mũ | Protection IV, Respiration III, Aqua Affinity I, Unbreaking III, Mending | Mai rùa cộng thêm 10 giây thở, hợp cho việc xây dưới nước |
| Áo giáp | Protection IV, Thorns III, Unbreaking III, Mending | Thorns tốn thêm 2 độ bền mỗi lần phản; bỏ nếu bạn muốn giáp bền |
| Quần | Protection IV, Swift Sneak III, Unbreaking III, Mending | Swift Sneak gần như bắt buộc khi đi Deep Dark tránh Warden |
| Giày | Protection IV, Feather Falling IV, Depth Strider III, Soul Speed III, Unbreaking III, Mending | Depth Strider và Soul Speed đi chung được; chỉ Frost Walker mới xung khắc Depth Strider |
| Elytra | Unbreaking III, Mending | Elytra chỉ nhận hai bùa này cộng lời nguyền; không có bùa tăng tốc |
| Cần câu | Luck of the Sea III, Lure III, Unbreaking III, Mending | Bộ chuẩn để farm sách phù phép và nautilus shell |
Thứ tự làm hợp lý nhất là: giáp trước, cúp sau, vũ khí cuối. Giáp giữ mạng cho bạn, cúp giúp bạn kiếm tài nguyên nhanh hơn, còn vũ khí thì một cây kiếm sắt Sharpness III cũng đã đủ dùng trong giai đoạn đầu.
Khác biệt phù phép giữa Bedrock và Java
Rất nhiều hướng dẫn tiếng Việt chép số liệu của Java rồi gắn nhãn Minecraft PE. Dưới đây là những chỗ hai bản thực sự khác nhau, tính tới bản Bedrock 1.26.
| Nội dung | Bedrock / Minecraft PE | Java Edition |
|---|---|---|
| Tổng số bùa | 42 loại | 43 loại, có thêm Sweeping Edge |
| Sharpness | Cộng 1,25 sát thương mỗi cấp, làm tròn xuống | Cộng 1 ở cấp I, mỗi cấp sau cộng 0,5 |
| Impaling | Ăn mọi mob đang dính nước hoặc đứng trong mưa | Chỉ ăn mob thủy sinh |
| Thorns | Gắn được lên cả bốn món giáp ngay từ bàn phù phép | Bàn chỉ cho lên áo giáp, các món khác phải qua sách |
| Rìu chiến đấu | Nhận Sharpness, Smite, Bane of Arthropods trực tiếp từ bàn | Phải ghép sách bằng đe |
| Chi phí đe | Chỉ tính phần cấp tăng thêm, rẻ hơn rõ rệt | Tính theo cấp cuối cùng của bùa |
| Kệ sách | Khoảng trống phải là không khí hoàn toàn, nhưng kệ ngập nước vẫn chạy | Cho phép vài khối truyền dẫn, không cho kệ ngập nước |
| Giao diện bàn | Xem và chạm được ô gợi ý trước khi đặt lapis | Phải đặt lapis mới thấy đủ thông tin |
| Protection | Giảm 4% mỗi cấp, đồng thời chặn cả sát thương phép như Instant Damage, Poison, Wither | Giảm 4% mỗi cấp |
| Nguồn bùa riêng | Mob sinh ra trong raid có thể rơi đồ phù phép, gồm cả Infinity | Không có nguồn này |
Điểm thực dụng nhất trong bảng này với người chơi PE là hai dòng đầu và dòng chi phí đe. Sharpness V của bạn mạnh gấp đôi Java, và bạn có thể ghép sách thoải mái hơn nhiều trước khi chạm trần 39 cấp. Nếu muốn nắm rõ hơn những khác biệt khác giữa hai bản, hãy đọc bài so sánh Minecraft Java và Bedrock.
Lỗi thường gặp khi phù phép và cách xử lý
Bàn chỉ hiện cấp thấp dù đã đặt nhiều kệ sách. Nguyên nhân gần như luôn là khoảng cách hoặc vật cản. Kệ phải cách bàn đúng một khối trống, cùng tầng hoặc cao hơn một tầng, và ở Bedrock khoảng trống đó phải hoàn toàn rỗng. Hãy dọn sạch đuốc, thảm, hoa và khung tranh quanh bàn.
Không đặt được đồ vào bàn. Bàn phù phép chỉ nhận vật phẩm chưa có bùa. Món đã có sẵn một bùa phải đưa qua đe, hoặc đưa qua đá mài để gỡ sạch rồi mới phù phép lại.
Đe báo “Quá đắt!”. Món đồ đã đi qua đe quá nhiều lần. Cách xử lý là ghép hết sách lại với nhau trước rồi mới ghép một lần duy nhất vào món đồ mới. Nếu món đã hỏng hẳn về mặt chi phí, bạn có thể gỡ bùa bằng đá mài để đặt lại mức phạt, tuy mất bùa cũ.
Ghép sách vào nhưng bùa không lên. Hai khả năng: bùa đó không gắn được lên món này, hoặc nó xung khắc với bùa món đang có. Hãy đối chiếu lại cột “Áp dụng cho” và cột “Xung khắc” trong bảng đầu bài.
Câu mãi không ra sách phù phép. Kiểm tra vùng nước mở. Khu vực 5×4×5 quanh phao phải toàn nước hoặc không khí. Ao nhỏ đào trong nhà, dưới mái hiên hay sát vách đá đều không tính là nước mở, và bạn sẽ chỉ câu được cá cùng rác.
Câu hỏi thường gặp
Cần bao nhiêu kệ sách để phù phép cấp 30?
Cần đúng 15 kệ sách. Đây là mức trần: kệ thứ 16 trở đi bị game bỏ qua hoàn toàn. Mỗi kệ phải cách bàn đúng một khối trống, đặt cùng độ cao với bàn hoặc cao hơn một khối. Bố cục dễ làm nhất là hình vuông 5×5 bao quanh bàn, xếp hai tầng và chừa lối vào cho bạn đứng.
Phù phép cấp 30 tốn bao nhiêu cấp kinh nghiệm?
Bạn cần có ít nhất cấp 30 nhưng chỉ bị trừ 3 cấp và 3 viên lapis lazuli. Con số 30 hiển thị là điều kiện mở khóa, không phải chi phí. Ô trên chỉ trừ 1 cấp và 1 lapis, ô giữa trừ 2 cấp và 2 lapis. Vì vậy hãy giữ nhân vật ở cấp 30 rồi phù phép liên tục thay vì tiêu hết cấp.
Làm sao lấy bùa Mending trong Minecraft PE?
Mending là bùa treasure nên bàn phù phép không bao giờ cho ra nó. Ba cách khả thi là mua sách từ dân làng thủ thư, câu cá ở vùng nước mở với cần Luck of the Sea, và mở rương trong các công trình như hầm mỏ, đền sa mạc hay thư viện pháo đài. Riêng ở Bedrock, mob sinh ra trong raid cũng có thể rơi đồ có Mending.
Vì sao đe báo “Quá đắt!” và khắc phục thế nào?
Vì thao tác vượt quá giới hạn 39 cấp trong chế độ sinh tồn. Mỗi lần món đồ đi qua đe, phí cộng thêm theo mức 0, 1, 3, 7, 15 rồi 31 cấp. Cách khắc phục là ghép toàn bộ sách với nhau trước để tạo một quyển tổng hợp, sau đó ghép đúng một lần vào món đồ chưa từng qua đe.
Đá mài có xóa được lời nguyền không?
Không. Đá mài gỡ được mọi bùa thường và trả lại một phần kinh nghiệm, nhưng Curse of Binding và Curse of Vanishing vẫn ở lại. Hai lời nguyền này chỉ biến mất khi món đồ vỡ. Đá mài cũng không giữ bùa lại thành sách, nên đừng dùng nó để chuyển bùa sang món khác.
Những bùa nào không thể đi cùng nhau?
Có sáu nhóm xung khắc chính. Sharpness, Smite và Bane of Arthropods chọn một. Fortune và Silk Touch chọn một. Protection, Fire Protection, Blast Protection và Projectile Protection chọn một. Depth Strider và Frost Walker chọn một. Multishot và Piercing chọn một. Riptide loại trừ cả Loyalty lẫn Channeling. Riêng chùy, Density và Breach cũng loại trừ nhau và loại trừ Smite, Bane of Arthropods.
Lời kết
Phù phép là bước rẽ giữa đồ sinh tồn tạm bợ và bộ trang bị dùng được cả thế giới. Hãy dựng bàn đủ 15 kệ sách, giữ cấp ở mức 30, ưu tiên giáp trước rồi tới cúp và vũ khí, và luôn ghép sách với sách trước khi chạm vào món đồ chính. Nhớ rằng số liệu Bedrock khác Java ở Sharpness, Impaling và chi phí đe — đừng áp thẳng bảng của Java vào Minecraft PE.
